Di?n ?n TOTHA

  Di?n ?n TOTHA > TOTHA > Chia se? kinh nghi?m cu?a ca?c ho?c vin TOTHA

 
01-17-2013, 10:36 PM   #31
happy
Member
 
: Nov 2011
: 44
Re: Báo cáo thu hoạch của lớp 06.02.2012

Tặng gia đình ToTha một câu chuyện :

Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai



Một bà cụ có tính tình cau có, thường xuyên nổi giận vì những sự việc nhỏ nhặt, hơn nữa, mỗi khi tức giận hay dùng lời lẽ ác độc, vô tình đã làm tổn thương nhiều người, vì thế bà ta giao tiếp với hàng xóm bạn bè đều không được hài hòa.

Bà ta cũng biết khuyết điểm của mình, mong muốn sửa lại lỗi lầm thành tật này. Nhưng mỗi khi tức lên thì chính bà ta cũng không thể khống chế được tâm mình.

Một hôm, một người đã nói với bà : “Chùa gần đây có một vị thiền sư, cũng là vị cao tăng, tại sao bà không đến xin lời chỉ dạy, biết đâu thiền sư có thể giúp được cho bà.”

Bà ta cũng cảm thấy có lý, đã đến tham vấn với thiền sư.

Khi bà ta thổ lộ tâm trạng của mình, bà ta có thái độ rất thành khẩn, rất mong muốn có được một vài lời khai thị từ vị thiền sư đó. Vị thiền sư im lặng nghe bà kể lể, chờ cho bà ấy nói hết, mới dẫn bà ta vào một thiền phòng, sau đó khóa cửa thiền phòng và rời khỏi đó.

Bà ta một lòng muốn có được lời chỉ dạy của thiền sư, nhưng không ngờ thiền sư đã nhốt bà ta vào trong một thiền phòng vừa lạnh vừa u tối. Bà ta tức tối hét lên, cũng như ngày thường, bà ta buông những lời nhục mạ quái ác. Nhưng cho dù bà ta có la hét cách nào, nhưng ở ngoài vẫn im lặng, thiền sư hình như không nghe thấy lời nào.

Khi không còn chịu đựng được nữa, thì bà ta thay đổi thái độ cầu xin thiền sư thả mình ra, nhưng thiền sư vẫn không động lòng thay đổi cách hành xử của mình, vẫn mặc kệ bà ta tiếp tục nói gì thì nói.

Qua một hồi rất lâu, cuối cùng trong thiền phòng cũng không còn tiếng la hét hay nói năng của bà ta nữa, thì lúc này, phía ngoài thiền phòng mới có tiếng nói của thiền sư hỏi : “Bà còn giận không ?”

Thế là bà ta giận dữ trả lời : “Tôi chỉ giận tôi, tôi hối hận sao phải nghe lời người khác, tìm đến cái nơi quỷ quái này để xin ý kiến của ngươi.”

Thiền sư ôn tồn nói : “Kể cả chính mình bà cũng không chịu buông tha, thì bà làm sao có thể tha lỗi cho người khác chứ ?” Nói xong thiền sư lại im lặng.

Sau một thời gian im lặng, thiền sư lại hỏi : “Bà còn giận không ?”

Bà ta trả lời : “Hết giận rồi !”

“Tại sao hết giận !”

“Tôi giận thì có ích gì ? không phải vẫn bị ông nhốt tôi trong cái phòng vừa u tối vừa lạnh lẽo này hay sao ?”

Thiền sư nói với vẻ lo lắng : “Bà xử sự kiểu này càng đáng sợ hơn đấy, bà đã đè nén cơn tức giận của mình vào một chỗ, một khi nó bộc phát ra thì càng mãnh liệt hơn.” Nói xong, thiền sư lại quay đi.

Lần thứ 3 thiền sư quay lại hỏi bà ta, bà ta trả lời : “Tôi không giận nữa, ông không xứng đáng để tôi giận !”

Thiền sư nói : “Cái gốc tức giận của bà vẫn còn, bà cần phải thoáng ra khỏi vòng xoáy của tức giận trước đã.”

Sau một hồi lâu, bà ta đã chủ động hỏi thiền sư : “Bạch thiền sư, ngài có thể nói cho con biết tức giận là cái gì không ?”

Thiền sư bước vào, vẫn không nói chuyện, chỉ có động tác như vô tình đổ đi ly nước trong cái ly trên tay.

Lúc này thì bà ta hình như đã hiểu.

Thì ra mình không bực tức, thì làm gì có tức tối giận hờn ? Tâm địa trống không, không có một vật gì, thì làm gì có tức tối ?

Trong lòng không có bực tức, thì làm sao có cơn giận ?

Thật ra tức tối không những tự làm cho mình khổ đau, và những người xung quanh cũng theo đó mà buồn lòng. Lúc tức tối tức giận, không gì ngăn cản cái miệng, buông lời quái ác, một số lời lẽ trong đó có thể làm đau lòng người nghe, thậm chí có cả những người yêu thương quan tâm mình.

Trong Kinh Thập Thiện, Đức Phật đã dạy : “ Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai “, chỉ một niệm khởi sân mà kết quả là muôn ngàn chướng ngại nẩy sanh.

Cho nên đừng nên vì sự việc nhỏ nhặt mà gây ra chuyện hại người hại mình, tức tối la hét là hành vi của kẻ ngu muội.

Tuy chúng ta chưa thể là một người thông minh, nhưng tối thiểu chúng ta cũng đủ trí tuệ ngăn cản mình làm một con người ngu dại. Xem nhẹ hơn mọi sự việc không như ý, đồng thời tìm thấy ich lợi trong im lặng, giác ngộ ý thiền trong cuộc sống. Từ đó chúng ta sẽ cảm nhận cuộc sống không cần phải mệt mỏi như ta tưởng, cũng không phài khốn khó như ta đã gặp.

Những sự việc nhỏ nhặt cũng giống như những hạt cát trong đôi giày đã làm cho bạn khó chịu.

Thế thì bạn lựa chọn cách giũ bỏ hạt cát hay vứt bỏ đôi giày ? Chúng ta không thể không mang giày, vì còn con đường dài phía trước, thế thì tại sao chúng ta không chịu giũ bỏ hạt cát !

 
01-19-2013, 12:53 AM   #32
Totha_Lien
Senior Member
 
: Jan 2011
: 316
Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai

Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai

Cội gốc của sinh tử luân hồi, nguyên nhân của khổ đau triền miên là phiền não mê lầm. “Sân” là một trong tám vạn bốn ngàn phiền não,

Cội gốc của sinh tử luân hồi, nguyên nhân của khổ đau triền miên là phiền não mê lầm. “Sân” là một trong tám vạn bốn ngàn phiền não, là phiền não thứ hai trong mười Căn bản phiền não. “Sân là tâm nóng giận, 1 trong 8 Bất định địa pháp thuộc tông Câu-xá, 1 trong 10 món Căn bản phiền não của tông Duy Thức.

Tác hại của tâm nóng giận là vô cùng vô tận, khó diễn tả hết được, ở đây chỉ nêu ra vài khía cạnh cơ bản:

- Về mặt xã hội: nóng giận là một trong những nguyên nhân gây ra đất nước chiến tranh, đồng bào chết chóc, bạn bè ly tán, đồng nghiệp thành thù, huỷ hoại sự nghiệp, danh vọng tiêu tan …

- Về mặt gia đình: Vì nóng giận nên ông bà đau khổ, cha mẹ chia lìa, vợ chồng trở mặt, anh em cách biệt, con cháu bất hiếu…

- Về bản thân: Nóng giận gây hại cho cả tâm và thân:

+ Tâm: Buồn phiền, nóng nảy, bất an, sợ sệt, không có cảm giác vui vẻ, an lạc, hạnh phúc, an ổn.

+ Thân: Bịnh tật, khó chịu, nhanh già, bởi vì khi nóng giận cơ thể tiết ra những chất nội tiết gây hại cho Lục phủ, Ngũ tạng…

Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “一念瞋心起,百萬障門開” (Phiên âm: Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai, nghĩa là một ý niệm nóng giận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở). Khi chúng ta khởi lên một ý niệm nóng giận, hoả khí trong người bốc lên, biểu hiện ra đỏ mặt tía tai, thịt gân run giật, hai mắt đỏ ngầu, bộ dạng thô bỉ, nói năng hung dữ, nghĩ toàn chuyện ác. Lúc đó cửa tội ác, nghiệp chướng mở ra, tha hồ cho chúng ta xông vào.

“Nghe” không đúng pháp tức cái nghe chấp trước là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến nóng giận, đau khổ cho chúng ta, “diệu pháp nghe” giúp chúng ta hoá giải sân hận, mang lại an lạc, hạnh phúc. Chúng ta cùng đọc bài tụng thứ tám trong Duy thức tam thập tụng nói về Nhĩ thức (nghe):
“次第三能變,差別有六種.了境爲性相 ,善不善俱非” [2] (Phiên âm: Thứ đệ tam năng biến, sai biệt hữu lục chủng, liễu cảnh vi tánh tướng, thiện bất thiên câu phi, nghĩa là thức biến hiện thứ ba, sai biệt có sáu thứ, tánh tướng là biệt cảnh, thiện bất thiện vô ký).

Sáu Thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức), nương nơi Sáu Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) tiếp xúc với sáu cảnh (Lục Trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp), sinh ra. Nhĩ thức là sự tiếp nhận Thanh cảnh của tai, Nhĩ căn sinh Nhĩ thức để phân biệt Thanh cảnh. Căn, Cảnh, Thức liên hệ mật thiết, không rời nhau, chi phối hầu hết những vấn đề về vũ trụ nhân sinh.

Tuỳ theo căn cơ, hoàn cảnh, chúng ta có thể áp dụng một số phương pháp “nghe” sau:
Một là nghe như là ăn. Khi ăn, chúng ta chọn ăn những thức ăn tinh sạch, bổ dưỡng, có lợi cho sức khoẻ, cân bằng được thân thể, thậm chí đến chén, bát, đũa, muỗng và cả chỗ ăn uống cũng phải sạch sẽ; thức ăn, bị thiu, bị thối, bị dơ bẩn và vật dụng và nơi ăn nhơ bẩn chúng ta cũng không ăn. Bởi vì ta biết ăn không tinh sạch sẽ gây ra bịnh tật. Cũng như vậy, khi nghe chúng ta “chỉ nghe” những lời hay, lời tốt, lời đẹp, lời thiện, đem lại niềm vui, hạnh phúc thật sự, làm tăng trưởng trí tuệ, phẩm chất đạo đức cho bản thân và mọi người; “không nghe” những lời chửi bới, mắng nhiếc, trù ẻo, đâm thọc, gây ra buồn phiền, hờn giận, đau khổ, tan vỡ, chia lìa cho mình và người. Bất kỳ âm thanh, lời nói trong phạm vi nghe được đều lọt tai của ta, nói “chỉ nghe” là nói ta giữ lại trong tâm, nói “không nghe” là ta không đem vào và giữ lại trong tâm. Những thứ tâm ta không lưu giữ thì nó sẽ không có chỗ tồn tại và phát triển được. Hơn nữa, khi chúng ta “chỉ nghe” những lời hay, lời đẹp, lời thiện thì chúng ta cũng tập “chỉ nói” những điều hay, điều đẹp, điều thiện mang lại an vui hạnh phúc cho mình và người khác; “không nói” những lời thô ác gây đau khổ cho mọi người.

Hai là nghe như nhận quà. Trong chương bảy, kinh Tứ thập nhị chương, có người dòng Bà la môn cố ý đến mắng chửi Phật, Phật lặng thinh không đáp, chờ người kia mắng chửi xong, Phật hỏi: “Ông đem lễ vật đến tặng cho người khác, người đó không nhận, lễ vật ấy có về lại ông không?” Người Bà la môn đáp: “về lại tôi” Phật bảo: “Nay ông mắng chửi ta, ta không nhận, ông tự đem hoạ về thân ông như vang theo tiếng, bóng theo hình, không thể tránh được. Hãy cẩn thận, chớ làm điều ác.” [3]
Ta nghe những lời mắng nhiếc, chửi bới, trù ẻo…của người khác mà ta “không nhận” thì những người đó phải tự mang về lại.

Ba là thấu rõ âm thanh vốn không thật có. Bản thân của những âm thanh phát ra từ miệng người khác mang nội dung chửi mắng, thô ác, trù ẻo…vốn không có tự tính, vốn không có thật, vốn không có chỗ tồn tại và can hệ đến ta. Sở dĩ ta đau khổ vì ta si mê, chấp những lời mắng chửi thô ác… là thật có, rồi đem những lời đó vào tâm mình, tự mình nuôi dưỡng, tạo điều kiện cho nó sống và phát triển trong tâm mình. Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dùng âm thanh của tiếng chuông mà khai ngộ tánh nghe cho toàn thể các vị đệ tử của ngài, mà đại diện là A Nan: “Khi đó Phật liền bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông A Nan rằng : ‘Ông có nghe không ?’ A Nan thưa : ‘Nghe’. Đến lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi : ‘Ông có nghe không ?’ A Nan thưa : ‘Không nghe’. Phật lại bảo La Hầu La đánh lại một tiếng chuông nữa và hỏi : ‘Ông có nghe không ?’ A Nan đáp : ‘Nghe’. Phật hỏi : ‘Thế nào là nghe và thế nào là không nghe?’ A Nan thưa : ‘Vì đánh chuông có tiếng ngân nên con nghe, đến khi tiếng chuông hết ngân thì con không nghe’. Phật dạy : ‘A Nan ! khi tiếng chuông hết ngân ông nói rằng không nghe ; nếu ông thật không có cái nghe thì ông đồng như cây đá, tại sao đánh tiếng chuông thứ hai ông lại nghe? Vậy cho biết cái tiếng (cảnh) khi có khi không, chứ cái nghe (tâm) của ông thì lúc nào cũng có. Nếu cái nghe của ông thật không, thì cái gì biết được không nghe đó. Thế nên biết cái tiếng nó tự sinh và diệt, chứ cái nghe (tâm) của ông không phải vì tiếng sinh mà nó có, tiếng diệt thì nó không. Tại ông điên đảo, hôn mê nhận cái thường (tính nghe) làm đoạn diệt (tiếng), chứ không phải rời sáu trần cảnh : sắc, thanh, hương, v.v.. mà các giác quan thấy nghe hay biết của ông không có” [4] Khi ta thật sự chiêm nghiệm và thấu rõ thật tướng của âm thanh thì ta dứt được cái nhân đau khổ, sân hận phát sinh từ cái nghe.

“Nghe” mà chấp trước chính là một trong những cửa ngỏ quan trọng dẫn chúng ta đến nơi đau khổ. Người viết thành tâm mong rằng những cách nghe được chia sẻ trên đây theo quan điểm nhà Phật có những nhân tố thích hợp có thể vận dụng vào trong cuộc sống hằng ngày, góp phần vào việc hoá giải những nóng nảy, khúc mắc, thù hằn, khổ đau trong lòng mỗi chúng ta và mang lại niềm vui an lạc dù rằng vô cùng nhỏ bé trong cuộc sống hiện đại.
 
02-21-2013, 08:02 AM   #33
happy
Member
 
: Nov 2011
: 44
Re: Báo cáo thu hoạch của lớp 06.02.2012

Mục đích cuộc đời

Có một chàng thanh niên mang trong lòng rất nhiều dự định, đặt cho mình rất nhiều mục tiêu mà theo anh là cần phải thực hiện. Anh lập quyết tâm thật cao để thực hiện những mục tiêu đó. Tuy nhiên, dù cố gắng rất nhiều nhưng anh chẳng hoàn thành được mấy việc. Dần dần, anh cảm thấy mệt mỏi và uể oải.

Hôm nọ, do yêu cầu của công việc, anh thanh niên lên đường giữa buổi trưa trời nắng chang chang. Chỉ đi một lúc anh đã mệt nhoài, chân chẳng muốn bước. Thấy từ xa có một cây cổ thụ tán rộng, cành lá sum suê anh mừng lắm, cố lê chân tới gốc cây rồi ngồi nghỉ.
Đang nhăn nhó quệt những giọt mồ hôi chảy đầy trên mặt, anh thấy một nhà sư khất thực tiến tới.

Nhà sư cũng dừng lại bên gốc cây, ngồi xuống nghỉ ngơi. Trên mặt nhà sư mồ hôi cũng chảy ròng ròng, nhưng không hề thấy ông nhăn nhó, cũng chẳng thấy ông ta đưa tay lên quệt mồ hôi.

Quan sát nhà sư, người thanh niên chỉ thấy sắc mặt ông yên bình, thanh thản đến lạ, hình như những nóng bức ghê người kia không hề làm ông khó chịu chút nào.

Thấy nhà sư có vẻ thoát tục lạ thường, anh thanh niên kính trọng lắm, mở lời:

- Thưa sư, con trông sư thật lạ, dường như sư đã đắc đạo, giải thoát được khỏi những đau khổ bình thường của thế gian vậy.

Nhà sư nhìn chàng trai nói:

- Không phải sư đã đắc đạo, mà sư đã bỏ được đạo.

- Bỏ đạo? - Người thanh niên ngạc nhiên.

- Đúng vậy! Một con thuyền chở thí chủ qua dòng sông lớn, qua sông rồi, thí chủ nên bỏ con thuyền mà đi tiếp hay nên vác con thuyền theo mình để tỏ lòng biết ơn?

- Dạ, tất nhiên con phải bỏ thuyền.

- Đạo cũng giống như con thuyền kia vậy. Là công cụ đưa ta đi tìm chân lý. Thấy được chân lý rồi thì phải bỏ hết công cụ đi.

Người thanh niên thấy lời nhà sư có vẻ như không đúng, tuy nhiên anh chưa biết phản bác thế nào.

Nhìn vẻ mặt của người thanh niên, nhà sư hiểu ý, ông nói:

- Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã nói: “Ta không cần mọi người tán dương ta, mà chỉ muốn mọi người thực hành giáo pháp của ta”. Lòng từ bi của đức Phật bao la, Ngài đâu cần chúng sinh ghi nhớ công ơn của Ngài, mà chỉ mong chúng sinh thực hành giáo pháp tự vượt qua cái khổ của đời người. Giáo pháp của nhà Phật vốn đều quy về một chữ không. Không ác, không thiện.

Anh thanh niên tròn mắt rồi anh lẩm bẩm từng lời mà nhà sư vừa nói:

- Không ác, không thiện !

Thấy thái độ của chàng thanh niên như vậy, nhà sư hỏi:

- Theo thí chủ, ác là gì ?

Bị hỏi bất ngờ, anh thanh niên hơi lúng túng, ấp úng nói:

- Theo con... theo con... ác là làm những việc trái với đạo lý như đánh, giết người … ừm... ừm... nói chung theo con ác là làm hại người khác để lợi mình, hoặc để cho mình được vui thích.

- Ác không chỉ có vậy, nhưng thí chủ hiểu như vậy cũng không sai, vậy theo thí chủ, nguyên nhân tội ác từ đâu ra?

- Dạ con không biết ạ!

- Ác do tham, sân, si mà ra. Tất cả vốn tự tâm mình cả, nếu tâm không thì không có ác! Bây giờ thí chủ có thể cho sư biết, thiện là gì không?

- Theo con, thiện là lòng tốt của con người, làm thiện là làm việc tốt cho người khác, đôi khi có thể vì người khác mà quên đi bản thân mình.

- Thiện cũng không chỉ là vậy, tuy nhiên nghĩ như vậy cũng đúng. Theo thí chủ thiện từ đâu sinh ra?

- Như giải thích của sư khi nãy, thì thiện cũng do tâm sinh chăng?

- Đúng vậy, thiện cũng từ tâm ra. Chúng ta nhìn vào ác để thấy thiện, nhìn vào thiện để thấy ác. Tự nhiên vốn không có ác, không có thiện. Ma và Phật cũng vậy. Tất cả đều do tâm động mà sinh. Để dễ hiểu hơn, ta hỏi thí chủ một câu: “Khi cầm một vật lên, dù vật đó to hay nhỏ, thí chủ sẽ nặng người thêm hay nhẹ đi ?”

- Dù vật đó như thế nào thì người con cũng sẽ nặng thêm.

- Tâm con người cũng vậy, càng động thêm càng tăng phiền não. Vì vậy con người không nên mang gánh nặng quàng vào mình, mà nên học cách bỏ đi mới là sáng suốt.

Nói xong nhà sư kết luận:

- Chúng sinh thường mong muốn cao xa, tự gây khổ cho mình. Đâu biết tâm tự nhiên vốn tự thanh tịnh, không lay động

Giáo lý của nhà Phật phải từ từ mới hiểu, lại từng bước mà lên, không thể một sớm một chiều là thông. sư và thí chủ đã có duyên mà cùng luận bàn câu chuyện, bây giờ cũng là lúc sư phải đi. Mong thí chủ suy ngẫm đôi điều, biết đâu sẽ được lợi ích gì chăng?

Nói rồi nhà sư từ biệt ra đi, bỏ lại sau lưng người thanh niên vẫn còn đang thẫn thờ với câu hỏi lớn trong đầu: “Mục đích chân thực của đời người, rốt cuộc là tìm kiếm hay bỏ đi đây?”.


 
02-23-2013, 12:58 AM   #34
Totha_Lien
Senior Member
 
: Jan 2011
: 316
Chánh Ngữ

Chánh Ngữ :

Đối tượng của sự buông bỏ
Sự buông bỏ này được thực hiện khi chúng ta bắt đầu có tuệ giác về giá trị của những cái mà ta đang chạy theo. Khi thấy được giá trị chân thật của đối tượng mà chúng ta từng chạy theo để nắm bắt, thì tự nhiên chúng ta có thể buông bỏ được. Trước đó chúng ta có nghe nói đến sự buông bỏ, đến sự cần thiết của việc buông bỏ, nhưng chúng ta chưa buông bỏ được, tại vì chúng ta vẫn thấy sự hấp dẫn của đối tượng đó. Chỉ khi nào có tuệ giác vững chãi và thâm sâu về đối tượng đó thì sự buông bỏ mới có thể trở thành sự thật. Buông bỏ ở đây là buông bỏ cái gì? Buông bỏ đối tượng của dục, là sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Chúng ta bị những đối tượng đó kéo theo. Phần lớn khi có mặt trên cuộc đời, chúng ta thường nghĩ rằng hạnh phúc của là phải chạy theo những đối tượng như vậy. Trong con người của chúng ta có khuynh hướng muốn chạy theo, muốn nắm bắt những sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Sở dĩ chúng ta chạy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp là tại chúng ta có một tri giác sai lầm về bản chất của sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp, chứ không phải tại sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp chịu trách nhiệm về sự chạy theo của chúng ta. Đối tượng của dục ở đây, theo ngũ dục, là tài, sắc, danh, thực, và thụy. Thực là thức ăn ngon, Thụy là mê ngủ, điều mà người tu thường mắc phải hơn là người ngoài đời. Trong cơ thể, chúng ta đã cho sẵn rằng (chấp trước) ta cần những thức này để có hạnh phúc. Trong giáo pháp tu tập giác ngộ (Phật pháp), sự ái dục, mê hoặc, chấp trước ngã, pháp chính là nhân duyên tạo nên Dukkha (Khổ). Do đó, phương pháp giúp chúng sanh tỉnh ra (giác) để nhận thấy triệt để (ngộ) nhân duyên tạo nên Dukkha, gọi chung là Phật Pháp, được xem là bản đồ, là chiếc bè chở (tâm) vượt khỏi biển mê để đến bờ giác, đến nơi hành giả phải lên bờ một cách ung dung (tự tại) không phải vướng bận bởi chiếc bè đã dùng làm phương tiện nữa mà phải dứt khoác buông bỏ nó để tiếp tục tiến đến nơi giải thoát Dukkha. Đó là Niết bàn.

”Hỡi các Tỳ kheo, ngày cả quan niệm giải thoát , minh bạch và rõ ràng như thế, nhưng nếu các ông bám chặt vào đó, nếu các ông quý chuộng nó, nếu các ông cất giữ nó, nếu các ông ràng buộc vào với nó, thì vậy là các ông đã không hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, cốt dung để qua sông chứ không phải để mà ôm giữ lấy”.

"Hỡi các Tỳ kheo, đã hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, thì pháp (dhamma) các ông còn phải lìa bỏ, huống nữa phi pháp (adhamma), thì lại càng nên xả bỏ biết chừng nào”.

Do đó, nếu đã hướng tâm tu học chánh pháp giác ngộ, thì chúng ta cần phải hiểu biết thấu đáo và suy nghĩ phân tích một cách đúng đắn (Chánh Tri kiến và Tư duy) quy luật của vạn pháp nói chung và khái niệm về "sự buông bỏ" nói riêng nhằm để giảng giải đạo pháp một cách đúng đắn (Chánh ngữ) hầu giúp cho mọi người nói chung và đoàn thể nói riêng nhận thức đúng vấn đề (Chánh kiến) tức là ta đã tạo duyên đúng cho việc truyền bá giáo pháp (chánh nghiệp) để giúp ta và mọi người cùng nhau hoá giải chướng nghiệp thì mới có thể giúp mình tinh tấn trên con đường tu học đặng thành. Tránh bị lôi cuốn (chớ để bị dẫn dắt) bởi những hình thức bề ngoài như : si từ (Hán từ hoa mỹ) toát ra bởi những diễn giả tà kiến biện thông cùng hiệu ứng đám đông kích hoạt (Y Pháp bất quy Nhân, Y Trí bất quy Thức). Tránh bị ám thị bởi những điều gán áp giáo điều, sáo ngữ lúc nào cũng thiêu dệt cho là kinh điển để lại, cùng vị đạo sư nầy nọ với dáng vẻ bề ngoài đạo mạo, kèm theo một ít thần thông vặt vãnh, tiên tri số phận (xem bói), ngoại cảm, phơi mình dưới nắng, giá rét,...mà lầm tưởng là vị sa môn (tỳ kheo đích thực) của Phật giáo, các đạo sĩ bình thường của các giáo phái khác dư khả năng làm được những điều nầy. Mà chúng ta cần phải luôn Tri kiến và Tư duy để nhận ra rằng mình và mọi người có tiếp nhận đúng giáo pháp giác ngộ do vị đạo sư truyền giảng lại hay không? Hãy dựa vào căn bản cốt lõi "Tứ Y Pháp" và "Tam Pháp Ấn" mà Đức Phật đã chỉ dạy đặng mà đối chiếu. Và luôn hằng tâm điều dạy thiết thực của người :

“Này các Kàlàmas, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời đồn hay bởi truyền thống, chớ để bị dẫn dắt bởi những lời người khác nói, chớ để bị dẫn dắt bởi những gì ghi lại trong Kinh điển, bởi lý luận hay suy diễn, bởi xét đoán bề ngoài, bởi tán thành một lý thuyết nào đó, bởi lòng tôn trọng "vị Sa môn này là Thầy ta". Mà này các Kàlàmas, khi các vị tự mình biết rõ (Tri Kiến và Tư Duy đúng): "Những pháp này là bất thiện, những pháp này đáng bị khiển trách và bất lợi". Lúc ấy các vị hãy từ bỏ chúng...”.

"Và này các Kàlàmas, khi nào các vị tự mình biết rõ: “Những pháp này là thiện, những pháp này là không lỗi và mang đến lợi ích thiết thực cho mọi người, mọi loài”, lúc ấy các vị hãy tiếp nhận và an trú trong pháp đó".

Chánh Tri kiến và Tư duy về chữ Đạo :
Theo Hán tự, chữ Đạo (道) là do chữ Thủ (首) và chữ Tẩu (走) hợp thành. Thủ là đầu, cũng tức là trước nhất; Tẩu là đi, cũng tức là thực hành. Đạo, chữ Hán nghĩa đen là đường đi, nghĩa bóng chỉ đường hướng cần phải theo trong đời sống tinh thần của con người. Sâu xa hơn, đạo là nguyên lý tiến triển của sự vật, hiện tượng, là quy luật hoạt động của vũ trụ. Lão Tử coi đạo là nguồn gốc của vũ trụ: "Có một vật gì đó sinh ra cả trời đất, lặng lẽ, trống không, đứng riêng biệt không đổi thay, tuần hoàn không biết mệt mỏi, có thể làm mẹ thiên hạ; ta không rõ tên là gì, gọi nó là đạo (hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh, tịch hề liêu hề, độc lập bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu; ngô bát tri kỳ danh, tự chi viết đạo)" [道沖,而用之或不盈 。淵兮,似萬物之宗 : Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề, tự vạn vật chi tông :Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy. Đạo sâu thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật].

Kinh Dịch nói: "Nhất âm nhất dương chi vị đạo", hai khí âm và dương tác động lẫn nhau là động lực thúc đẩy sự hình thành và chuyển hóa của sự vật. Duy vật biện chứng nói: mâu thuẫn là nguyên nhân của phát triển, mà vận động (theo quy luật = Đạo) lại là phương thức tồn tại của vật chất, của thế giới.

Quan điểm Phật học, Đạo là con đường (quy trình) dẫn đến giải thoát Dukkha (Diệt Khổ), chân lý nầy xuyên suốt (kinh điển) tam giới bởi thuyết "Bát Chánh Đạo".

Trong bài giảng về "Tam Bảo của các Tôn giáo", Thầy đã đúc kết thật Liễu nghĩa nội dung dẫn con đường Giác Ngộ (Đạo Phật) theo đúng tinh thần Phật học nguyên thuỷ bởi 3 câu kệ sau :

Thấu hiểu Vạn vật Tướng Không Thật [PHÁP]
Nhận ra chúng sanh Đồng thể Tánh [TĂNG]
Hợp nhất Trí Tâm Đồng thể nhập [PHẬT]

Như vậy, chữ Đạo hiểu theo quan điểm chung của tất cả tôn giáo đặc trưng cho khái niệm tổng quan bất biến (hằng hữu, không có nhân duyên), sẵn có trong vũ trụ.

Do đó, nếu đã hướng tâm tu học chánh pháp giác ngộ, thì chúng ta cần phải hiểu biết thấu đáo và suy nghĩ phân tích một cách đúng đắn (Chánh Tri kiến và Tư duy) về ý nghĩa uyên thâm của "Đạo" nói chung và quy luật của vạn pháp nói riêng nhằm để giảng giải đạo pháp một cách đúng đắn (Chánh ngữ) hầu giúp cho mọi người nói chung và đoàn thể nói riêng nhận thức đúng vấn đề (Chánh kiến) tức là ta đã tạo duyên đúng cho việc truyền bá giáo pháp (chánh nghiệp) để giúp ta và mọi người cùng nhau hoá giải chướng nghiệp thì mới có thể giúp mình tinh tấn trên con đường tu học đặng thành. Tránh bị lôi cuốn (chớ để bị dẫn dắt) bởi những hình thức bề ngoài như : si từ (Hán từ hoa mỹ) toát ra bởi những diễn giả tà kiến biện thông cùng hiệu ứng đám đông kích hoạt (Y Pháp bất quy Nhân, Y Trí bất quy Thức). Tránh bị ám thị bởi những điều gán áp giáo điều, sáo ngữ lúc nào cũng thiêu dệt cho là kinh điển để lại, cùng vị đạo sư nầy nọ với dáng vẻ bề ngoài đạo mạo, kèm theo một ít thần thông vặt vãnh, tiên tri số phận (xem bói), ngoại cảm, phơi mình dưới nắng, giá rét,...mà lầm tưởng là vị sa môn (tỳ kheo đích thực) của Phật giáo, các đạo sĩ bình thường của các giáo phái khác dư khả năng làm được những điều nầy. Mà chúng ta cần phải luôn Tri kiến và Tư duy để nhận ra rằng mình và mọi người có tiếp nhận đúng giáo pháp giác ngộ do vị đạo sư truyền giảng lại hay không? Hãy dựa vào căn bản cốt lõi "Tứ Y Pháp" và "Tam Pháp Ấn" mà Đức Phật đã chỉ dạy đặng mà đối chiếu.

“Luận người làm đạo như cầm dao bén, như bưng chén thuốc độc; nếu người nào không kham nổi thì chi bằng đừng làm tốt hơn. Vì nếu giới-định-tuệ chưa thành sẽ sa vào tà kiến biện thông dẫn dắt sai lầm làm mê hoặc hàng loạt chúng sinh vướng khổ. Khó lắm ! Khó lắm. Cẩn thận. Cẩn thận ! - Kinh Vị tầng Hữu Thuyết Nhân Duyên tr.111”

Người hiền trí và tỉnh giác quen thuộc với cả hai cách nói năng:

"Ý nghĩa mà kẻ thông thường hiểu được và ý nghĩa mà họ chưa hiểu nổi.
Ai thông thạo cả hai cách nói năng đó mới là bậc hiền trí."

 
02-23-2013, 01:00 AM   #35
Totha_Lien
Senior Member
 
: Jan 2011
: 316
Chánh Ngữ

Tổng quan:
1/- Cần hiểu đúng và vận dụng đúng 2 từ buông bỏ (≠ vô thủ chấp) để không bị đánh mất nhân duyên mà chúng ta cần nương nhờ để tiến hoá.

“ Với lẽ thật trong vũ trụ, chúng-sanh sanh ra, do nhân duyên níu kéo, chẳng đầu đuôi, cả thảy đều là bố-thí cho nhau, chan sớt chia sẻ cho nhau, đang xin lẫn nhau, mới có cái sống biết, và sống biết tu học".

2/- Cần hiểu đúng cụm từ "buông bỏ pháp (giáo pháp) sau khi vận dụng thành công để thấy được chân lý" và buông bỏ sự níu kéo của vạn pháp thiêu dệt nên lục thức .Bởi vì, pháp do nhân duyên mà sinh và vì vậy cũng tuỳ nhân duyên mà diệt.

"Hỡi các Tỳ kheo, đã hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, thì pháp (dhamma) các ông còn phải lìa bỏ, huống nữa phi pháp (adhamma), thì lại càng nên xả bỏ biết chừng nào”.

" ...Thị chư pháp không tướng, bất sinh , bất diệt, bất cấu , bất tịnh, bất tăng , bất giảm.(để nhận định rõ mọi sự vật hiện tượng đều không cố định (không tướng) (do nhân duyên hình thành), không tự sinh, không tự diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm)"
[Trích Bát Nhã Tâm Kinh].

3/- Cần phân biệt cụm từ "buông bỏ Đạo (không nhân duyên) -> vô nghĩa ≠ buông bỏ Pháp (có nhân duyên) -> hữu nghĩa. Trong giáo pháp nguyên thuỷ của Phật học, hành giả đã đi đến nơi tận cùng (ngoài tam giới) Tỉnh-Tịnh-Không, không còn đường (Đạo) để phải đến và phải đi nữa (Như Lai) tức đã đắc đạo. Các vị A La Hán sau khi đắc đạo vẫn phải tiếp tục con đường (đạo) hoằng dương giáo pháp rộng khắp thế gian, ngay cả Đức Phật thích ca lúc còn tại thế, ngày cũng phải trải mình hành đạo cứu độ chúng sanh.

"Hãy ra đi, các tỳ kheo, đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người. đem hạnh phúc cho nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem lại sự tốt đẹp, lợi ích hạnh phúc cho chư Thiên và nhân lọai, Mỗi người hãy đi mỗi ngã. Này hỡi các tỳ kheo, hãy hoằng dương đạo pháp, tòan hảo ở đọan đầu, tòan hảo ở đọan giữa, tòan hảo ở đọan cuối cùng, tòan hảo trong cả hai, tinh thần và văn tự. Hãy công bố đời sống thiêng liêng, cao thượng, vừa tòan thiện, vừa trong sạch. Chính Như Lai cũng phải đi hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc Đại Trí. Hãy truyền dạy giáo pháp cao cả. Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Được vậy là các người đã hoàn tất nhiệm vụ."

4/- Cần phải hiểu đúng trọng tâm của giáo pháp của Đức Phật Thích ca Mâu ni, đó là "Khổ và Diệt Khổ", tất cả đều do nhân duyên sinh và cũng tuỳ nhân duyên mà diệt. Tính không thiện không ác chỉ là một pháp nói về phạm vi hành động (Nghiệp) của Thân-Khẩu-Ý mà thôi : nghiệp ác cảm chiêu địa ngục, nghiệp thiện cảm chiêu cõi thiên, nghiệp không thiện không ác hiện tại + nghiệp quá khứ tuỳ duyên cảm chiêu. Tiến xa hơn nữa là Chánh Định Tâm để vượt khỏi Tam giới giải thoát luân hồi.

Phật pháp được phát triển rất rộng rãi từ thời Đức Phật thành đạo cho đến thời vua A Xà Thế. Nhưng sau khi Đại Ca Diếp nhập diệt thì về sau hàng đệ tử thân cận với Đức Thế Tôn chỉ còn lại A Nan mà thôi. Tôn giả tuy lãnh đạo tăng đoàn nhưng tuổi tác mỗi năm mỗi cao. Một hôm nọ trên đường đi, lúc đó tôn giả đã 120 tuổi, Ngài nghe một thầy tỳ kheo trẻ tụng bài kệ rằng:

Nếu người sống trăm tuổi,
Không thấy thủy lão hạc.
Chẳng bằng sống một ngày,
Mà được thấy hạc ấy.

A Nan nghe qua, thấy bài kệ bị tụng sai lầm một cách tệ hại như râu ông nọ cắm cằm bà kia, nên tôn giả bèn lập tức cải chánh. Bài kệ phải tụng như thế này:


Nếu người sống trăm tuổi,
Không hiểu pháp sanh diệt.
Chẳng bằng sống một ngày,
Mà được hiểu rõ ràng.

Thầy tỳ kheo kia nghe A Nan dạy xong liền trở về thưa lại với sư phụ, chẳng dè sư phụ của thầy nổi sùng nói rằng:

- Ông đừng nghe A Nan nói bậy, năm nay A Nan đã quá già thành ra lú lẩn. Ta dạy ông không sai đâu.

Thầy tỳ kheo trở lại đem lời sư phụ nói lại với A Nan. Tôn giả định đi tìm ông ta để hỏi tại sao lại nói những lời ngu si như vậy? Nhưng suy đi nghĩ lại thì con người đã thốt ra lời ấy có nói chưa chắc đã chịu nghe, nên thôi. Một vị trưởng lão ôn hòa như A Nan, một vị thống lãnh giáo đoàn đương thời và nắm trong tay giáo quyền tối thượng mà vẫn áp dụng lối xử sự nhún nhường (im lặng, mặc tẳng).Tuy vậy, một bậc trưởng lão thánh tăng đã 120 tuổi thì việc đời không còn chút lưu luyến, nhưng sau khi gặp chuyện trên lại càng chán ngán cho thế gian. Đức Thế Tôn nhập diệt chưa bao lâu mà có người đã hiểu sai Phật pháp cho nên sau nầy trong giáo đoàn sẽ có những điều tà kiến thì làm sao tránh khỏi. Ta vì Phật tụng lại giáo pháp mà mọi người lại chấp chặt vào kiến chấp của họ chứ không chịu theo đúng pháp mà làm. Vậy ta còn ở lại nơi đây để làm gì? Nghĩ ngợi như vậy khiến tôn giả tự nhiên nhớ đến Đức Phật, rồi liên tưởng đến các vị đại đệ tử Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên…Càng nhớ lại ngày xưa làm tôn giả càng suy tư triền miên:” Ôi! Những vị ấy, như chim bay theo gió, một lúc mà tất cả đã vào cõi thánh. Trong bao nhiêu vị thánh bây giờ chỉ còn mình ta, như rừng cây bị đốn sạch chỉ còn sót lại một cây cổ thụ không đủ che mưa đỡ gió. Cõi nhân gian nầy thật trống rỗng, đã đến lúc ta nhập diệt mà thôi.

Đến thời nay trải qua hơn 2500 năm lịch sử, kinh điển đạo phật đã hơn 6 lần chỉnh sửa lại (kết tập lại), bởi do biên thủ kiến của con người mà ra. Cụm từ buông bỏ đạo (vô nghĩa) do hiểu nhầm từ nội dung của Bát Nhã Tâm Kinh có cụm từ Vô Đạo (không còn phải làm theo Bát Chánh Đạo nữa khi đã nhận ra chư pháp vô tướng).

...Vô Khổ , Tập , Diệt , Đạo , (không còn phải Khổ, không còn những yếu tố gây khổ (Tập) đeo bám nữa, không còn phải lo Diệt khổ nữa, không còn phải tu Bát Chánh Đạo nữa [Trích Bát Nhã Tâm Kinh]

 
02-25-2013, 05:03 PM   #36
trikien
Junior Member
 
: May 2012
: 11
Re: Báo cáo thu hoạch của lớp 06.02.2012

Rất tâm đắc bài viết "Chánh Ngữ về sự Buông bỏĐạo" của Totha_Lien thật là thực tế và sâu sắc. Duyên hợp tâm pháp khiến tôi tri cảm , mạn phép đóng góp thêm vài ý mọn sưu tập từ chánh lý huynh đệ gần xa cùng tâm nguyện với TOTHA về Tri kiến và Tư duy trong việc tu tập tiến hoá...

Buông bỏ

"Buông bỏ" là một thành ngữ vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age). Nó bị lợi dụng và lạm dụng mỗi ngày. Nhưng tuy vậy, danh từ ấy diễn tả một thái độ nội tâm rất dũng mãnh, đáng cho ta tìm hiểu dù có là sáo rỗng hay không!

Buông bỏ có nghĩa y như vậy, là bảo ta thôi bám víu vào bất cứ một sự việc gì - cho dù đó là một ý tưởng, một vật, một sự kiện, một thời điểm, một quan niệm, hoặc một tham muốn nào đó. Buông bỏ là một quyết định có ý thức, với sự chấp nhận hoàn toàn hòa nhập vào dòng sông hiện tại trong khi hiện hữu đang khai mở. Buông bỏ có nghĩa là thôi ép buộc, thôi chống cự hoặc tranh đấu, để đổi lấy một cái gì cường mạnh hơn và trọn vẹn hơn. Nó phát sinh từ một sự cho phép mọi việc có mặt như chúng là, mà không bị mắc kẹt vào bản chất dính như keo của lòng tham muốn, của thương và ghét. Hành động ấy cũng tương tự như là ta mở rộng bàn tay ra, buông bỏ một vật gì mà mình hằng mãi mê nắm giữ.

Nhưng thật ra không phải sự dính mắc của lòng tham vào ngoại vật đã giam giữ ta. Cũng không phải chúng ta chỉ nắm giữ bằng đôi tay, chúng ta còn nắm bắt bằng tâm ý của mình nữa. Chúng ta tự bắt giữ mình, tự giam hãm mình bằng những quan điểm nhỏ hẹp, bằng những hy vọng và mơ ước nhỏ nhen. Thật ra buông bỏ có nghĩa là ta được trở nên trong sáng, không để bị ảnh hưởng bởi sự lôi cuốn của lòng ưa thích và ghét bỏ. Muốn đạt được sự trong sáng đó, ta cần phải biết cho phép sự sợ hãi và bất an của tự chúng biểu lộ ra dưới ánh sáng quán chiếu của chánh niệm.

Chúng ta chỉ có thể thực sự buông bỏ khi nào ta biết đem chánh niệm và sự chấp nhận, nhìn thẳng vào thực chất vô cùng dính mắc của mình. Và nếu ta biết ý thức được những lúc ta vô tình mang lên một cặp mắt kính màu, đi phân chia chủ thể và đối tượng, làm cong quẹo và uốn éo cái thấy của ta. Trong những lúc ấy, ta vẫn có một khả năng cởi mở, nhất là nếu ta có chánh niệm thấy được mình đang mãi mê theo đuổi, bám víu, buộc tội hoặc chối bỏ sự việc vì một lợi lộc riêng tư nào đó.

Sự tĩnh lặng, minh triết, tuệ giác chỉ có thể phát sinh khi ta thật sự an trú trong giờ phút hiện tại, mà không bám víu hoặc xua đuổi bất cứ một việc gì. Ðiều tôi nói đó bạn có thể thí nghiệm được. Hãy cứ thử đi cho biết! Bạn hãy thử chứng nghiệm đi, xem mỗi khi ta buông bỏ một cái gì mà mình rất ưa thích, nó có đem lại cho ta một sự mãn nguyện sâu xa hơn là sự bám víu vào nó hay không!

Khi ta an trú trong tĩnh lặng, những tư tưởng phê phán trong ta sẽ phát hiện ra rõ rệt như là những tiếng còi báo hiệu sương mù ở ven biển. Tôi không ưa cái đau ở chân... Cái này chán quá... Tôi thích cảm giác tĩnh lặng này... Hôm qua tôi ngồi thiền thật tốt, nhưng hôm nay thì tệ quá... Cái này không hợp với tôi... Tôi không giỏi ngồi thiền cho lắm... Thật ra tôi không giỏi chút nào hết... Những loại tư tưởng này đã từng chế ngự và trì kéo tâm ta xuống. Nó cũng tương tự như ta đang đội một thúng đá trên đầu vậy. Bạn nghĩ xem, nếu ta có thể bỏ nó xuống thì sung sướng biết chừng nào! Và bạn hãy tưởng tượng, nếu chúng ta biết dừng sự phê phán của mình lại, và để cho mỗi giây phút được như nó là, không cần phán đoán nó là "tốt" hoặc "xấu", ta sẽ cảm thấy như thế nào! Ðó mới thật sự là tĩnh lặng, là chân giải thoát.

Thiền tập có nghĩa là nuôi dưỡng và phát triển một thái độ không phê phán những gì đang khởi lên trong tâm, bất cứ là một sự việc gì. Thiếu thái độ ấy không có nghĩa là sự phê phán không còn nữa. Lẽ dĩ nhiên nó sẽ vẫn còn đó, vì bản tánh của tâm ý là hay so sánh, phê phán và đánh giá. Nhưng khi nó có mặt, ta sẽ không cố gắng ngăn chận hoặc làm lơ nó, hơn bất cứ một tư tưởng nào khác có mặt trong tâm mình.

Con đường của thiền tập là chỉ đơn giản chứng kiến bất cứ một sự việc gì khởi lên trong tâm và thân, nhận diện nó bằng một tâm bình thản, không theo đuổi cũng không ghét bỏ. Ta cũng ý thức được rằng, sự phán đoán của ta không thể nào tránh được, và ý tưởng về kinh nghiệm thì rất giới hạn. Ðiều ta muốn có được trong thiền tập là tiếp xúc trực tiếp với kinh nghiệm của mình. Cho dù đó là một hơi thở vào, hơi thở ra, một cảm giác hoặc cảm thọ, một âm thanh, một sự thôi thúc, một tư tưởng, một ý niệm, hoặc một ý nghĩ phê phán. Và ta luôn luôn tỉnh thức, biết rằng mình rất có thể bị kẹt vào việc đi phê phán chính sự phê phán ấy, hoặc dán cho chúng nhản hiệu là tốt hay xấu.

Trong khi ý nghĩ của ta hay tô màu lên mọi kinh nghiệm, những ý nghĩ ấy lại thường không được mấy chính xác. Lắm khi chúng chỉ là ý kiến cá nhân, là những phản ứng và thiên kiến dựa trên một kiến thức giới hạn và chịu nhiều ảnh hưởng bởi những điều kiện trong quá khứ. Bao giờ cũng vậy, khi không nhận thức được chúng, những tư tưởng ấy có thể ngăn trở không cho ta thấy rõ được thực tại chung quanh. Chúng ta bị mắc kẹt trong sự suy nghĩ, tưởng rằng ta thật sự biết những gì mình đang nhìn, đang cảm nhận, và đem tâm phán đoán khéo léo áp đặt lên mọi việc ta tiếp xúc. Chỉ cần ta ý thức được tập quán cố hữu này và theo dõi nó mỗi khi nó có mặt, có thể giúp ta phát triển một thái độ chấp thuận và tiếp nhận mà không phê phán, vô cùng rộng lớn.

Nhưng bạn nên nhớ rằng, một thái độ không phê phán không có nghĩa là ta sẽ không còn biết xử sự hoặc hành động có trách nhiệm trong xã hội nữa, hoặc là để mặc ai làm gì cũng được. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là chúng ta biết hành xử sáng suốt hơn trong cuộc sống, ta trở nên quân bình hơn, hữu hiệu hơn và có đạo đức hơn trong mọi sinh hoạt. Vì ta ý thức được rằng, mình đang đắm chìm trong dòng sông thất niệm, của sự ưa thích và ghét bỏ, chúng ngăn che ta với thế giới và bản chất thanh tịnh của mình. Tâm thức ưa ghét ấy có thể cư trú thường trực trong ta, và nó cung cấp nguyện liệu cho những hành động si mê của ta một cách vô ý thức, trong mọi lãnh vực của sự sống. Khi ta có thể nhận diện và gọi tên những hạt giống tham lam trong tâm, dù chúng tinh tế đến đâu - lúc nào cũng muốn theo đuổi sự vật và kết quả mình mong mỏi - và những hạt giống của sân hận, ghét bỏ, trốn tránh những gì mình không ưa thích - nó sẽ giúp ta dừng lại trong một khoảnh khắc và tự nhắc nhở rằng, những năng lực nguy hại ấy đang thực sự có mặt nơi ta. Ta có thể nói rằng chúng là những vi khuẩn, độc tố rất nguy hiểm, ngăn trở không cho ta nhìn thấy rõ được thực tại cũng như xử dụng hết chân tiềm lực của mình.

Hãy mạnh dạn,
Và an trú trong thân mình.
Nơi dưới chân ta bao giờ cũng vững chắc,
Hãy suy nghĩ cho tường tận!
Ðừng bỏ đi đâu nữa mà làm gì!
"Hãy quẳng đi hết mọi ý nghĩ và những sự vật tưởng tượng.
Và đứng cho thật vững vàng trong con người của ta.

 
02-25-2013, 05:16 PM   #37
trikien
Junior Member
 
: May 2012
: 11
Re: Báo cáo thu hoạch của lớp 06.02.2012

Đường xưa còn đó :
Khi đức Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, hàng đệ tử Thanh văn rất lo lắng, rằng sau khi đức Phật nhập diệt rồi thì sẽ không có bậc đạo sư để nương tựa. Đức Thế Tôn biết và Ngài đã an ủi họ: "Này các Tỷ-kheo, thế gian vô thường, có sanh phải diệt, các ông hãy tinh tấn để giải thoát mình. Pháp và Luật[*] Như lai đã dạy cho các ông lâu nay, chính đó là đức Thầy cao cả của các ông, nếu Ta có ở đời lâu hơn nữa cũng không khác."[*] Pháp là những lời dạy về giáo lý, về chân lý của sự vật như Vô thường, Vô ngã, Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, lục căn lục trần, thập bát giới... Pháp sau này được kiết tập thành Kinh tạng. Luật còn gọi là Giới gồm những điều cần tránh, những điều giới, sau này kiết tập thành Luật tạng. Pháp và Luật như vậy đã trở thành một nền giáo lý màđức Phật đã truyền lại cho đến nay.

Mặc dầu đức Phật đã căn dặn như thế, nhưng khi Ngài nhập diệt chưa bao lâu thì đã có nhiều người không hiểu, thậm chí còn hiểu sai lầm về Pháp mà Ngài đã truyền dạy, ngay cả một vị sư già thời ấy cũng nằm trong số đó.
Một sáng kia, Tôn giả A-nan-đa đắp y cầm bình bát đi khất thực, khi đi ngang qua một tịnh xá thì gặp chú tiểu đang ngâm nga câu kệ: "Nhơn sanh bách tuế, bất kiến thủy lão hạc, bất như sanh nhất nhật, đắc kiến thủy", nghĩa là: "Người sống trăm năm, không thấy con hạc già, chẳng bằng sống một ngày, mà thấy được con hạc già". Tôn giả A-nan-đa lấy làm thắc mắc, liền quay lại hỏi chú tiểu:

- Này Sa-di, ai dạy chú câu đó?
- Thưa trưởng lão, Thầy con dạy như thế. Thầy con còn nói đó là lời dạy của đức Phật nên bắt con phải học thuộc lòng câu ấy.

Tôn gỉa A-nan-đa phân vân quá, lại nghĩ: Mình là vị cao tăng hầu cận bên đức Thế Tôn, Ngài dạy điều gì mình đều ghi nhớ rất kỹ nhưng chưa hề nghe câu này! Tại sao Thầy kia lại dạy cho đệ tử câu đó? Ngài cố suy nghĩ và chợt nhớ ra trong kinh Pháp Cú, đức Phật dạy như thế này: "Nhược nhơn thọ bách tuế, bất kiến sanh diệt pháp, bất như sanh nhất nhật, đắc kiến sanh diệt pháp". Nghĩa là: "Nếu người sống trăm tuổi mà không thấy pháp vô thường sanh diệt[*]. Chẳng bằng sống chỉ một ngày mà thấy được pháp sanh diệt vô thường".
[*] Năm uẩn sanh diệt tức là các pháp do nhân duyên hòa hợp. không thường trú.
Nghiên cứu giáo lý của đức Phật, chúng ta đều biết rằng Luật biến chuyển vô thường của vũ trụ là một chân lý, là một sự thật. Đạo Phật gọi đó là Chân như, là bản thể của sự vật. Nếu ai không hiểu đúng sự vô thường của vạn vật thì họ sẽ chấp trước cái tướng, rồi sinh ra đắm đuối say mê cái ngã nên mới sinh triền phược gây khổ đau. Ngược lại, nếu hiểu được luật vô thường của sự vật thì trí mới sáng, tâm mới trong, khi ấy mới mong trừ được nhũng điều vô minh để sống cuộc đời tự tại.

Lời đức Phật dạy có ý nghĩa sâu xa như thế, nhưng vị sư già đã dạy cho đệ tử như vậy. Tôn giả A-nan-đa nhân nghe chú tiểu đọc đã hiểu rằng: Sự hiểu lầm nguy hại đã tồn tại qua bao nhiêu năm tháng như thế này thật đáng tiếc.

Đức Phật dạy:
"Yoca vassatam jive
Apassam udayavyayam
Ekaham jivitam seyya
Passato udayavyayam"


Nghĩa là:
"Ai sống một trăm năm
Không thấy pháp sanh diệt,
Tốt hơn sống một ngày
Thấy được pháp sanh diệt"
-(PC 113)

Tôn giả A-nan-đa đã sửa lại và bảo chú tiểu học thuộc lòng câu Pháp Cú này đúng như lời đức Phật dạy: "Nhược nhơn thọ bạch tuế, bất kiến sanh diệt pháp, bất như sanh nhất nhật, đắc kiến sanh diệt pháp"[*]. Chú tiểu đã học theo lời Tôn giả A-nan-đa chỉ.[*] Pháp cú câu 113 do ngài Liễu Tham dịch từ Pàli ra Hán văn. Hòa thượng Thiện Siêu chuyển dịch từ Hán văn sang Việt văn.

Đến khi về tinh xá, vị Bổn sư nghe chú tiểu đọc câu kinh mà Tôn giả A-nan-đa đã sửa lại cho, vị Bổn sư của chú nghe lạ tai quá bèn hỏi chú tiểu:
- Này con, ai chỉ cho con đọc như thế? Ta đã chỉ cho con đọc như thế này tại sao con đọc như thế kia?

Chú tiểu trả lời:
- Thưa Thầy, đó là Trưởng lão A-nan-đa dạy con đọc như vậy.

Vị Bổn sư của chú tiểu thốt lên rằng:
- Ôi chao, Trưởng lão A-nan-đa bây giờ già quá và lú lẫn rồi, chớ biết chi nữa mà con nghe ổng, khổ chưa!

Chúng ta biết rằng Tôn giả A-nan-đa có tiếng là đa văn đệ nhất. Bao nhiêu lời dạy của đức Thế Tôn, Tôn giả đều ghi nhớ hết. Tôn giả được ví như là biển cả chứa đựng tất cả lời dạy của đức Thế Tôn, thế mà bây giờ vị sư già đó cho rằng: Tôn giả già rồi lú lẫn! Than ôi, thật là đại hoạ cho Phật pháp! Cách đức Phật nhập diệt không bao lâu năm tháng mà vị sư già kia đã diễn đạt sai ý của Phật thì chắc trên thế gian này cho đến nay đã có không biết bao nhiêu người hiểu sai lời dạy của đức Thế Tôn. Tôi đoán chắc là nhiều lắm.
Giáo lý của đức Phật trong 49 năm thuyết pháp truyền lại cho chúng sinh thật vô cùng thậm thâm vi diệu. Ngày nay các nhà khoa học và xã hội học khi nghiên cứu kinh Phật chừng nào họ càng thán phục chừng ấy, thế mà thật đáng tiếc, trong hàng ngũ chúng ta đã có người không hiểu đúng lời Phật dạy! Khi đã không hiểu đúng như sự vật là vô thường, vô ngã thì chính lòng họ đã hướng dẫn đời sống họ trở nên mê mờ tối tăm, không những không đem lại lợi ích cho mình mà còn không đem đến lợi ích cho bao nhiêu chúng sinh khác.

Tóm lại, nếu chúng ta hiểu đúng giáo lý của đức Phật thì sẽ đem đến lợi ích, không hiểu đúng giáo lý của đức Phật thì sẽ không lợi ích mà lại còn làm tổn thương hoài bão lớn lao của chư Phật, rằng chư Phật ra đời là vì lợi ích cho chúng sinh. Vì vậy những ai, dù xuất gia hay tại gia, đã là đệ tử của Phật thì phải cố gắng học và hiểu cho đúng giáo lý của đức Phật hầu lấy đó làm một phương thuốc hay, hầu đối trị căn bịnh tham, sân, si, ngã mạn và vô minh tối tăm, để cuộc đời mình được thăng hoa, như hoa sen vượt lên khỏi bùn, toả hương thơm cho đời
 
03-14-2013, 01:55 PM   #38
happy
Member
 
: Nov 2011
: 44
Re: Báo cáo thu hoạch của lớp 06.02.2012

Quý Thể


Sa Di Hư Trúc ( sa di là cấp bậc thấp nhất của người tu theo đạo Phật), chân đất, đầu trọc, áo vuông, nay xuống núi khất thực ( đi xin ăn, theo đạo Phật phái tiểu thừa). Hai tay Hư Trúc ôm bình bát lần theo những phiến đá rêu phong vạn cổ, vừa đi vừa lẩm bẩm:
- Tại sao ta phải đi khất thực?
- Vì ta ôm bình bát.
- Tại sao ôm bình bát ?
- Vì ta có hai tay.
- Tại sao có hai tay?
- Vì ta có thân.
- Tại sao có thân?
- Tại vì ta có" ta"
- Tại sao lại phải có ta?
- Bởi vì có cuộc đời.
- Có cuộc đời này để làm gì?
- Vì có mặt trời !...
Ông mặt trời lúc đó như một ngọn nến khổng lồ, cất mình bay lên đốt cháy rực cả một nền trời phương đông. Hơi núi rờn xanh quấn quít trong rừng cây hốc đã cũng đổi thành màu hồng trái chín. Rừng rộn ràng tiếng chim vui. Con đường ngoằn ngoèo dẫn bước chân Hư Trúc qua một sơn thôn. Mấy người già dậy sớm vào rừng hái măng, kính cẩn chắp tay chào:"A-di-đà phật!". Có cụ già đặt cả phần cơm trưa còn nóng hổi vào bình bát cúng dường tam bảo. Hư Trúc bước chầm chậm, mắt hướng thẳng về phía trước nhưng chẳng thấy gì, đầu óc diễn đi diễn lại những câu hỏi đáp vu vơ về cuộc đời, về cái ta, cái thân và mặt trời.
Có cô gái đứng cạnh hàng rào, tay cầm cành hồng hàm tiếu mới cắt trong vườn sáng hôm nay chờ người nhà chùa đi qua dâng lên phật tổ. Những cánh hoa khép mở e dè ngậm hạt sương mai. Khi sa di bước qua, nàng tiến tới, kính cẩn mở nắp bình bát nhẹ nhàng đặt cành hoa vào rồi chắp tay xá một cái. Sa di mắt lơ đảng nhìn về phía trước chầm chậm xuống núi. Cô gái nhìn theo bóng chiếc áo vàng một lúc rồi chạy theo đoàn người vào rừng hái măng. Đúng ngọ sa di trở về chùa. Hư Trúc lên đại điện cắm cành hoa cúng phật xong đem thức ăn xuống trù phòng (nhà bếp) rồi cùng các đạo hữu thọ trai (ăn cơm) Cơm nước xong sa di cầm quyển kinh ra vườn, tựa gốc bồ đề đọc, mới vài trang thì giấc ngủ đã kéo tới. Sa di để quyển kinh rơi xuống cỏ, những tờ kinh phất phơ trong gió. Sa di bắt đầu rong chơi trong cõi mộng. Trong mơ sa di lẩm bẩm: Tại sao mặt trời vẫn mọc ? Tại sao ta vẫn là ta ? Ta là bướm có được không? Được chứ ! Thế là sa di quạt đôi cánh vàng lấm tấm nâu bay lượn với những con bướm khác khắp khu vườn. Làm bướm được một lúc thì sa di chán, nghĩ, làm dế vui hơn. Sa di liền biến thành con dế than chui vào hang xoè cánh gáy liên hồi chọc tức mấy con dế khác. Gáy và trêu chọc bọn dế kia một lúc, chẳng tháy chúng nói năng gì, sa di cũng chán, nghĩ, làm con sâu thú vị hơn. Hư Trúc hoá thành chú sâu đo màu xanh trong suốt trông như cộng rau luộc. Con sâu đo tới mép lá, nhìn xuống phía dưới thấy sâu thăm thẳm. Sâu tự hỏi: Nhảy xuống dưới đó ra sao nhỉ? Đang lúc ấy bỗng có tiếng kêu làm sâu hoảng hốt rơi xuống đám lá mục . Đó là tiếng gọi của sư huynh Hư Không:
- Hư Trúc ! Thức dậy gánh nước tưới rau, chẻ củi. Tu hành gì mà nằm xuống là ngủ, kinh kệ để rơi lả tả như lá mùa thu !
Hư Trúc tỉnh dậy quảy đôi thùng gỗ xuống suối gánh nước tưới rau. Gánh tới chiều Hư Trúc trở về chùa ăn tối. An uống xong tụng niệm một hồi rồi ngủ. Một ngày của sa di Hư Trúc là thế, vẫn con đường xuống núi có mặt trời, có tiếng chim, có đoàn người hái măng, có cụ già cúng dường tam bảo bửa cơm đạm bạc, có cô gái dâng hoa. Trưa về cơm nước xong ra vườn đọc kinh, chưa được bao nhiêu thì giấc ngủ lôi kéo sa di vào mộng. Cái "tâm" của sa di hoàn toàn thanh tịnh, thế mà câu chuyện cô gái dâng hoa đã tới tai sư ông trụ trì. Sau nhiều đêm trăn trở, sư ông buộc miệng than:
- Ôi nghiệp chướng nặng tợ núi Thái Sơn. Phải cứu đệ tử gấp , nếu không nó hư đọa mất !
Sư ông cho người đòi Hư Trúc lên đại điện. Hư Trúc kính cẩn quì trước mặt thầy. Vào lúc này cái "Tâm" của sa di vẫn tĩnh lặng như mặt nước hồ thu, còn cái tâm của thầy nhấp nhô như sóng biển đông. Thầy hỏi:
- Việc khất thực của con mấy lâu nay như thế nào?
- Bạch sư phụ, mọi việc vẫn bình thường.
Sư ông nổi trận lôi đình, thét:
- Đồ nghiệt súc ! Sao lại giấu ta chuyện cô gái với cành hoa?!
- Thưa mỗi ngày có nữ thí chủ cúng dường một cành hồng hàm tiếu...
Rồi sư ông dịu giọng, lo lắng hỏi:
- Tai sao đợi ta hỏi nhà ngươi mới chịu kể?
- Bạch sư phụ hàng ngày con đi khất thực, biết bao nhiêu là thí chủ...
Sư phụ:
- Nữ thí chủ con cái nhà ai?
- Bạch sư phụ con không biết.
- Nhà cửa cô ta ở đâu?
- Bạch sư phụ con không biết.
- Nữ thí chủ đó ăn mặc ra sao?
- Thưa sư phụ con không để ý.
- Bao nhiêu tuổi?
- Thưa con không hỏi.
Sư ông ho khan một tiếng, vừa căng thẳng vừa lo lắng trước điều quan trong cuối cùng mình sắp hỏi. Cái"tâm" hư Trúc vẫn phẳng lặng như tờ.
- Thế con thấy nữ thí chủ có xinh đẹp, nhan sắc có mặn mà hay không?
- Bạch thầy con không biết !
Sư ông dập ngọn lửa sân. Thắp lên cây đuốc tuệ, nghĩ: Loài yêu quái ghê gớm thật giữa ban ngày dám hiện hình cám dỗ đệ tử ta. Thôi thì hãy dùng pháp phật mà cứu nó. Sư ông phán:" Lui về tịnh phòng diện bích ( ngồi nhìn tường) mà sám hối tội lỗi. Đọc chín lần chín tám mốt lần bộ kinh Thuỷ Sám. Ba ngày sau đến đây cho thầy dạy!"
Hư Trúc bái tạ thầy, quay về, lòng không ngớt phân vân. Không biết mình đã phạm tội gì to tát lắm làm cho thầy giận, thầy buồn. Tội gì ta chẳng biết nhưng sư phụ đã nói có tội là chắc chắn có tội. Hư Trúc lấy bộ kinh Thuỷ Sám tụng đủ tám mươi mốt lần sám hối tội lỗi. Ba ngày sau Hư Trúc diện kiến sư phụ. Sư ông ôn tồn nói:
- Cô gái con gặp hàng ngày đó không phải là nữ thí chủ thành tâm. Nó là loại ngạ quỉ súc sinh từ cõi A Tỳ hiện lên để cám dỗ người tu hành chưa được tinh tấn như đệ tử. Thầy nói để con đề phòng. Sau ba ngày sám hối chắc con đã thông tuệ. Thôi lui ra !
***
Sáng hôm nay Hư Trúc lại xuống núi khất thực. Vẫn cảnh cũ người cũ. Cô gái đứng chờ bên đường tay cầm cành hoa. Lần này Hư Trúc tự dặn lòng : Ta phải nhìn cô gái thực kĩ, hỏi thăm nàng con cái nhà ai, xem nàng mặc xiêm y ra sao và nhất là chú ý xem dung nhan của nàng có mĩ mìu hay không ? Chứ đến khi sư phụ hỏi, chỉ rặt một câu:" Bạch sư phụ con không biết!" lại bị quở trách.
Hư Trúc dừng lại, cô gái cầm cành hoa tiến đến. Hư Trúc mở nắp bình bát, nàng đặt cành hoa vào. Da thịt người nam người nữ lần đầu tiên tiếp xúc với nhau, một luồn nhân diện làm sa di rúng động tâm cang. Sa di nhìn, ôi ! một khuôn mặt thánh nữ hiển hiện trên chín tầng trời. Hư Trúc thấy niết bàn chẳng ở đâu xa... Than thầm: Trăm lần không, vạn lần không, tội lỗi này chẳng phải do đệ tử gây ra sư phụ ơi !
Than xong sa di quay về hướng núi lạy bốn lạy rồi bỏ đi luôn./.
 

« | »







- -